ÂN TÌNH ĐẶC
BIỆT CỦA TRÁI TIM
Chào
mừng Kỷ niệm 60 năm Quốc khánh Nước Cộng hòa nhân dân Cuba (01/01/1959 -
01/01/2019)
Hiếm có mối quan hệ
nào lại ẩn chứa nhiều nét đặc biệt như quan hệ giữa 2 Đảng, 2 Chính phủ và nhân
dân 2 nước Việt Nam - Cuba.
#Từ “đôi mắt xanh” của “vị thánh tông đồ của nền độc
lập dân tộc”
Với những người yêu
chuộng hòa bình, José Martí là một cái tên không xa lạ. Ông sinh ngày 28/1/1853
tại La Habana, là nhà tư tưởng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà cách mạng kiên cường
của Cuba và Mỹ Latinh. Ông là người phát động và lãnh đạo cuộc đấu tranh giành
độc lập của nhân dân Cuba vào cuối thế kỷ 19 và hy sinh trên chiến trường ngày
19/5/1895. Nhân dân Cuba tôn vinh ông là “vị thánh tông đồ của nền độc lập dân
tộc”.
Nhiều người Việt Nam
còn biết đến José Martí bởi một sự trùng hợp thú vị khác của lịch sử: Ngày
19/5/1895, José Martí, anh dũng hy sinh khi đang ngồi trên mình ngựa xông ra
trận chiến đấu chống quân thực dân Tây Ban Nha. 5 năm trước đó (năm 1890), cũng
ngày 19/5, Hồ Chí Minh, con người vĩ đại của nhân dân Việt Nam cất tiếng chào
đời.
Tuy nhiên, không nhiều
người biết rằng, chính nhà cách mạng kiệt xuất này với bài viết “Cuộc dạo chơi
trên đất nước của người An Nam” (in trên tạp chí Tuổi Vàng của Mỹ năm 1889) về
cuộc sống lao động cần cù, sáng tạo, với nền văn hóa lâu đời, phong phú, nêu
bật tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam cùng
niềm tin tất thắng vào cuộc đấu tranh đó, đã được xem là người Mỹ Latinh đầu
tiên “phát hiện ra Việt Nam” và là “người Cuba đầu tiên gieo hạt giống cho tình
đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam - Cuba”.
#Tới mối quan hệ hữu nghị đặc biệt
Từ hạt giống lành của
nhà cách mạng lỗi lạc José Martí, mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cuba đã lớn
mạnh không ngừng. Nhiều học giả Cuba và Việt Nam đều cho rằng, dường như lịch
sử đã khéo lựa chọn, giao phó cho Hồ Chí Minh tiếp nối sứ mệnh mà José Martí
chưa hoàn thành, nhằm giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc ở các nước thuộc
địa.
Trong một thời gian
dài cho đến năm 1892, José Martí đã hoạt động ráo riết để sáng lập Đảng Cách
mạng Cuba (tiền thân của Đảng Cộng sản Cuba ngày nay), thì đầu thế kỷ XX, vào
năm 1930, Hồ Chí Minh chính là người đã tổ chức, rèn luyện và lãnh đạo Đảng
Cộng sản Việt Nam…
Cùng chung một lý
tưởng, một đích đến… Việt Nam - Cuba ngày thêm gắn bó, đồng cảm, chia sẻ… Chỉ
chưa đầy một năm sau ngày cách mạng Cuba thành công (ngày 1/1/1959), giữa thời
điểm chỉ có một số ít các quốc gia trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ
ngoại giao với Việt Nam Dân chủ cộng hòa (VNDCCH), giữa vô vàn e dè, ngại ngần,
thậm chí xa lánh…, trong bối cảnh toàn bộ Mỹ Latinh đang chịu sự chi phối và bị
coi là khu vực “sân sau” của Mỹ, ngày 2/12/1960, Cộng hòa Cuba đã là quốc gia
đầu tiên ở Mỹ Latinh thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với VNDCCH.
Cuba cũng là nước Mỹ
Latinh đầu tiên trên thế giới công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam
Việt Nam (năm 1962) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với nhân dân miền
Nam Việt Nam (năm 1963); là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ
ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và cũng
là nước đầu tiên đặt “Đại sứ quán trong rừng” ở Tây Ninh (năm 1969)…
Trân quý vô cùng là
tình cảm ấy không chỉ hiện diện trên những tờ quyết định, trong những lời nói
tưởng chừng mang tính ngoại giao đơn thuần… Càng trong gian khó, kìm kẹp, cản
trở, bất chấp những biến thiên của thế sự, bất chấp khoảng cách địa lý “đường
xa vạn dặm”…, tình cảm ấy chưa một thời khắc nào phai nhạt, mà ngược lại, càng
trở nên sâu đậm, tựa “tri kỷ”.
Những năm 1960, 1970,
khó khăn đầy ắp, nhưng trong thời kỳ gian khổ nhất của cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc của Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba đã luôn luôn đồng
hành, chắt chiu dành cho Việt Nam sự ủng hộ lớn nhất có thể, cả về vật chất lẫn
tinh thần.
Với tinh thần: “Vì
Việt Nam, chúng ta sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, một phong trào quần
chúng rộng rãi ủng hộ Việt Nam đã được triển khai khắp Cuba; Ðài phát thanh La
Habana đã dành riêng một kênh phát bằng tiếng Anh sang Mỹ để giới thiệu với
nhân dân Mỹ về tình hình Việt Nam và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của
nhân dân Việt Nam, góp phần cùng Việt Nam tranh thủ dư luận tiến bộ Mỹ, ủng hộ
Việt Nam, đòi chấm dứt chiến tranh. Cuộc sống vật chất còn thiếu thốn trăm bề
là thế nhưng ước tính những năm tháng chiến tranh ác liệt ấy, Cuba đã giúp Việt
Nam hàng vạn tấn đường và bán số đường đó lấy ngoại tệ để gửi cho Mặt trận giải
phóng miền Nam Việt Nam.
Trong
một cuộc mít tinh quần chúng với hàng chục vạn người tham gia tại thủ đô La
Habana, Fidel Castro đã nói: “Đáng tiếc là chúng ta - những người Cuba - không
có đủ đường sữa để gửi cho nhân dân Việt Nam, chứ nếu có, không những đường sữa
mà cả máu chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng cho nhân dân Việt Nam”. Năm 1967
được Cuba đặt tên là “Năm Việt Nam Anh hùng”. Cuba đã nhận hàng nghìn sinh viên
Việt Nam sang đào tạo ở nhiều ngành khác nhau. Giữa lúc Mỹ đang tiến hành phá
hoại ở miền Bắc, nhiều kỹ sư, công nhân và nhiều bác sĩ, nhân viên y tế Cuba đã
sang giúp chữa trị cho các nạn nhân chiến tranh. Bất chấp sự phong tỏa bằng
bom, mìn của đế quốc Mỹ, các tàu Cuba vẫn cập cảng Hải Phòng vận chuyển hàng
cứu trợ của nhân dân Cuba giúp người dân Việt Nam. Fidel không chỉ một lần
khẳng định: “Tình đoàn kết của chúng ta, niềm tin của chúng ta đối với nhân dân
Việt Nam và ban lãnh đạo Việt Nam là vô điều kiện và tuyệt đối”.
Chiến
tranh kết thúc, Cuba cũng là nước có vai trò rất quan trọng trong việc vận động
các nước Mỹ Latinh ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc tại Khóa họp 32 Đại
hội đồng Liên hợp quốc năm 1977. Trong suốt thập niên 80 thế kỷ XX, khi cả hai
nước phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, Cuba cũng là nước Mỹ Latinh duy nhất
kề bên Việt Nam cùng chống lại chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ.
#Tình bạn mãi không phai
Chính những “điều đầu
tiên”, chính những điều sẻ chia chí nghĩa chí tình trong những năm tháng bộn bề
khó khăn ấy đã khiến mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cuba, như lời lãnh tụ
Fidel Castro, trở thành “mối quan hệ đặc biệt, không có tiền lệ, là hình mẫu
của quan hệ quốc tế”. Thời gian trôi đi, thế sự thêm nhiều biến thiên, nhưng
với đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nhân dân Việt Nam
mãi mãi ghi nhớ tình cảm sâu đậm và những sự giúp đỡ vô giá mà nhân dân Cuba đã
dành cho mình.
Cũng bởi đạo lý ấy, ơn
nghĩa ấy, mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam từ lâu đã coi việc đoàn kết,
ủng hộ và hợp tác với Cuba là một nguyên tắc, một mệnh lệnh của trái tim. Khi
Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu sụp đổ, Mỹ siết chặt cấm vận, lại bị thiên tai
tàn phá liên tiếp, Cuba đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn của thời kỳ
đặc biệt, thời kỳ khó khăn nhất kể từ khi cách mạng thành công, Việt Nam đã
dành cho đất nước anh em sự ủng hộ hết lòng: tổ chức các đợt quyên góp gạo,
quần áo, đồ dùng học tập cho học sinh, máy tính, một số mặt hàng tiêu dùng cần
thiết khác, gửi sang giúp Cuba. Tới thời điểm này, Việt Nam là đối tác thương
mại lớn thứ hai trong khu vực châu Á và châu Đại Dương của Cuba, là nhà cung
cấp gạo chính cho Cuba.
Giờ đây, khi hai nước
nói riêng và thế giới nói chung bước vào giai đoạn phát triển mới, Đảng và Nhà
nước hai nước Việt Nam - Cuba đều nhận thức rõ mối quan hệ hợp tác giữa hai
nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và cần phải được nâng lên tầm cao mới.
Nói về mối quan hệ hữu
nghị Việt Nam - Cuba, có ai đó đã viết rằng: mối quan hệ gắn bó, thủy chung
giữa Việt Nam và Cuba là thứ tình cảm hết sức “vi diệu” đã nảy sinh giữa hai
dân tộc mà lý thuyết nào về quan hệ quốc tế cũng không giải thích nổi. Và mối
quan hệ ân tình đặc biệt ấy, sẽ còn mãi không phai, bất chấp thời gian và không
gian./.
Nhận xét
Đăng nhận xét