NGƯỜI NGƯỜI LỚP LỚP
Sáng 17 tháng 2 năm 1979, khi sương vừa
tan, trung sĩ Hồ Tuấn trên chốt cao gần cửa khẩu Tà Lùng nghe tiếng hô vang
động sau loạt pháo kích. Qua kính ngắm của khẩu 14,5 mm, Hồ Tuấn lạnh gáy khi
thấy từng đợt sóng người tràn qua biên giới. Pháo dọn đường cho xe tăng tiến
trước, tiếp đến bộ binh. Có cả kèn trống trợ oai. Đoàn quân lố nhố kéo dài hàng
cây số, tắc lại phía sau cửa khẩu.
“Giặc đông như quân Nguyên, không cần
ngắm bắn, cứ giã xuống đầu kiểu gì cũng trúng”, Hồ Tuấn giữ chắc khẩu KPV 14,5
mm, khai hỏa. Biển người vẫn dâng lên. Tay pháo thủ mỏi nhừ.
Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên cuối
năm 1950, bên bờ sông Áp Lục, biên giới tự nhiên giữa bán đảo Triều Tiên và
Trung Quốc, quân Mỹ đã sửng sốt khi nhìn thấy lớp lớp sóng bộ binh “Chí nguyện
quân” ào ạt tấn công. Lớp này ngã xuống, lớp khác lại tiến lên. Liên quân Mỹ –
Hàn với vũ khí lợi hại, vẫn bị biển người đẩy ngược về phía sau vĩ tuyến 38.
Chiến thuật “biển người” chống lại quân đội Quốc dân Đảng một lần nữa được quân
Chí nguyện áp dụng thành công.
Mao Trạch Đông trong cuốn Chiến
tranh trường kỳ đã khẳng định “Trong chiến tranh, vũ khí rất quan
trọng, nhưng không phải là yếu tố quyết định. Con người mới chính là yếu tố
quyết định”. Năm 1946, trả lời nhà báo Mỹ Anna Louise Strong, Mao nói: “Bom
nguyên tử chỉ là con hổ giấy mà Mỹ đem dọa người”. Tư tưởng quân sự của Mao từ
chỗ đề cao yếu tố con người đã lấn thêm một nấc: coi thường sức mạnh vũ khí.
Ngay cả khi Mao qua đời, người kế nhiệm
Hoa Quốc Phong vẫn ủng hộ tư tưởng này. Trong khi Đặng Tiểu Bình, người theo tư
tưởng đổi mới, nhấn mạnh cải tổ quốc phòng trong chương trình Bốn hiện đại hóa
của Trung Quốc.
Hội nghị Công tác chính trị toàn quân
tháng 4 – 6/1978 trở thành một cuộc tranh luận giữa hai luồng tư tưởng và kết
thúc không đạt được sự đồng thuận nào. Giữa lúc ấy, “cuộc chiến tranh trừng
phạt Việt Nam” diễn ra. Tư tưởng quân sự của Mao vẫn áp đảo.
Trấn giữ thị xã Cao Bằng trước tháng
Hai, chỉ có Trung đoàn 567 bộ đội địa phương, chủ yếu là làm kinh tế. Năm 1978,
xung đột biên giới leo thang. Trung đoàn nhận lệnh vào trấn giữ Quảng Hòa.
Chiến sĩ đi đào hào, đắp công sự, cắm chông thay cho làm đường, trồng rừng.
Ông Hồ
Tuấn nhớ lại ký ức 40 năm trước.
Tết Kỷ
Mùi ấy, đơn vị Hồ Tuấn ăn Tết sớm một tháng. Đầu tháng Hai, đơn vị cấm trại,
báo động cấp một, sẵn sàng chiến đấu.
Hồ Tuấn
đi ngủ sớm theo quân lệnh, sáng ngày mai có bài tập thể dục lúc 5h. Nhưng 4h30,
kẻng báo động trong đơn vị vang dồn dập. Quân Trung Quốc tràn sang. Nhiều người
vẫn đang mặc áo lót, chỉ kịp vơ lấy khẩu súng.
Tà Lùng
thất thủ. Đêm 17 tháng 2, đơn vị Hồ Tuấn nhận lệnh rút về đèo Khau Chỉa. Các
đại đội rải dọc đèo Khau Chỉa, từ đồi Nghĩa Trang đến đồi Không Tên, bắt đầu
một cuộc chiến không cân sức.
Khau
Chỉa cách cửa khẩu Tà Lùng 12 cây số, gồm một dải đồi liên tiếp nhau. Con đèo
án ngữ Quốc lộ 3 – huyết mạch dẫn về thị xã Cao Bằng. Vượt qua được vị trí này,
xe tăng Trung Quốc tiến về thị xã chỉ mất một tiếng. Khau Chỉa trở thành yết
hầu. Bằng mọi giá phải giữ.
Trong sơ
đồ dưới đây, có thể nhìn thấy kế hoạch “hội quân” giữa 2 mũi tấn công của kẻ
thù, thành hay bại, nằm ở việc chúng có vượt qua đèo Khau Chỉa hay không.
Sơ đồ 2
mũi tấn công của Trung Quốc vào Cao Bằng, bị chặn lại ở đèo Khau Chỉa.
Cả trung đoàn khi ấy, có ba khẩu 14,5 mm
trực tiếp chiến đấu. Loại vũ khí phòng không chủ yếu của đơn vị nòng cốt trực
thuộc Bộ chỉ huy quân sự cấp huyện đến tỉnh. Phiên bản ZPU-1 được Liên Xô sản
xuất hàng loạt năm 1967, từ lời đề nghị của Việt Nam, nhằm đối phó với không
quân Mỹ khi đánh du kích trong địa hình rừng rậm hoặc đồi núi. Loại vũ khí
tưởng đã hoàn thành nhiệm vụ khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, nay một lần nữa
tái xuất trong cuộc chiến bảo vệ biên cương phía Bắc.
“Chúng đánh có quy luật, thường bắn rạng
sáng và nghỉ về đêm”, ông Hồ Tuấn tổng kết. Muốn tiến công chốt nào, chúng câu
pháo vào trước và tập trung bắn. Pháo chuyển làn là bộ binh xung phong. Bộ đội
Việt Nam chỉ chờ thế, mang pháo ra mà giã.
Mỗi lần bộ binh Trung Quốc ào lên, pháo
đại đội bắn không ngừng nghỉ, nòng đỏ như thép nung, vét cát tút không kịp. Bộ
đội để dành nước uống dội vào nòng pháo cho nguội bớt. Bắn đến nỗi loa che lửa
đầu nòng bay đi đâu, mất pittong đẩy về, khẩu pháo trong tay trung sĩ Tuấn chỉ
còn bắn được phát một. Sau trung đoàn phải vác nòng mới lên thay thì mới bắn tiếp
được.
Mười hai ngày trên đèo Khau Chỉa, Hồ
Tuấn cầm cự chiến đấu bằng những vắt cơm dân quân Quảng Hòa chuyển lên. Vắt cơm
trắng, thi thoảng độn chút muối vừng hoặc con cá mắm. Nhiều người gánh cơm đến
lưng đèo thì trúng pháo. Đêm tranh thủ bên kia ngưng bắn, bộ đội lăn xuống lưng
dốc tìm, nhặt những nắm cơm đã nhớt, dính đầy đất. Ông nghĩ “không có dân quân
tiếp tế, chắc bộ đội chết cả”.
Hôm nào nồi cơm khê là Quyên lại khóc.
Chẳng hiểu sao, “cơm khê là bộ đội chết nhiều”. Sau đêm pháo nổ, Quyên cùng mấy
chị em trong làng đi thẳng lên chốt, xin bộ đội cho tải đạn, tải thương.
“Nó đốt nhà mình, giết dân mình rồi nên
phải đi thôi”, bà Quyên vẫn nhắc lại quyết định của mình năm ấy trong nước mắt.
Những cô bé người Tày sống gần cửa khẩu,
thường vỗ tay hoan hô mỗi lần thấy đoàn xe tải bít bạt kín thùng từ phía bên
kia sang. Những chiếc xe chở gạo, đạn dược Trung Quốc viện trợ cho chiến trường
Việt Nam đánh Mỹ. Những năm “còn tốt với nhau”. Những đồng bào người Tày, người
Nùng chỉ quen làm nương rẫy, ngày xuân đi hội, uống rượu, giờ cầm súng đi thẳng
lên chốt. Ai không cầm được súng thì nắm cơm tiếp tế cho bộ đội, hoặc tải
thương, chôn cất tử sĩ.
Sau phút
chốc bất ngờ, sự kháng cự của dân quân biên giới Việt Nam, có lẽ là điều mà
Đặng Tiểu Bình hay Hứa Thế Hữu không dự tính được.
12 ngày không vượt được Khau Chỉa, Trung
Quốc cay cú dồn quân ở thị xã Cao Bằng, theo hướng đèo Mã Phục đánh ngược lên
biên giới. Ý định cùng cánh quân bên kia đèo Khau Chỉa tạo thành gọng kìm bóp
chết Trung đoàn 567. Thị xã bị chiếm, liên lạc bị cắt. Từ đây, đơn vị Hồ Tuấn
gần như bị cô lập và hoàn toàn chiến đấu độc lập.
Chúng đông, bắn không xuể, ngày nào cũng
đông như cũ. Hồ Tuấn chỉ nghĩ “Giá mà bộ đội chủ lực về kịp thì biết tay. Nhưng
xác định mình cũng là chủ lực rồi, nên cứ dần cho chúng tơi tả trước”. Khi ông
bắn đến thùng đạn cuối cùng, các quân đoàn chủ lực của Việt Nam đang từ mặt
trận Campuchia quay về.
Ngày 28 tháng 2, trung đoàn nhận lệnh
rút khỏi Khau Chỉa, chờ phản công. Đại đội hy sinh chín người. Hồ Tuấn bị pháo
văng vào đầu. Lúc nhận được lệnh rút, cũng là lúc bộ binh Trung Quốc xông lên
đến gần chiến hào. Ông chỉ kịp tháo cơ bẩm, phá pháo, không để vũ khí rơi vào
tay giặc, ném lại hai quả lựu đạn rồi lăn xuống lưng đèo. Hành quân về đến
Quảng Uyên, đơn vị đụng một tiểu đoàn Trung Quốc, lại bắn nhau một trận long
trời lở đất nữa rồi mới về hậu cứ.
Một trung đoàn bộ đội địa phương Việt
Nam kìm chân một sư đoàn chủ lực Trung Quốc trong 12 ngày. Họ không tiến thêm
được bước nào, ngoài quãng đường 12 cây số từ cửa khẩu Tà Lùng về đến đèo Khau
Chỉa. Hơn 6.000 lính Trung Quốc đã bị tiêu diệt trong 12 ngày đêm ở hướng này.
Bình quân mỗi ngày 500 lính, tương đương gần một tiểu đoàn.
Trận đánh giam chân ở đèo Khau Chỉa buộc
Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật ở Cao Bằng. Chúng chia quân thành những
đơn vị cỡ tiểu đoàn cơ động để tìm kiếm, khóa đường, lùng sục. Nhưng vẫn không
vượt qua được con đèo. Thất bại trong việc làm chủ Cao Bằng, Lạng Sơn “trong
vài ba ngày”, thực quyền chỉ huy cuộc chiến từ Hứa Thế Hữu rơi vào tay Dương Đắc
Chí.
Nguyễn Văn Vương Lớp 9
Nhận xét
Đăng nhận xét