CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN VÀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA
CỐ THƯỢNG TƯỚNG - GS NGND HOÀNG MINH THẢO
(Kỷ niệm 44 năm giải phóng Buôn Ma Thuột 10/3/1975 -
10/3/2019)
Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh:
Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân
năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do
cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (ảnh) là Tư lệnh chiến dịch và
Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp là Chính ủy chiến dịch.
Diễn biến của Chiến dịch Tây Nguyên:
Đợt 1(Tạo thế): Từ 4/3 đến 9/3/1975: Ngày 4/3, ta cắt đường số 19
đọan từ An Khê đến Nam Bình Khê và cắt đường số 21, tập kích bằng
pháo binh và đặc công vào thị xã Công Tum, Plây Cu, tích cực hoạt
động nghi binh để ghìm chặt địch ở Bắc Tây Nguyên. Cùng ngày, ta tiến.
Đợt 2: Từ ngày 10 đến 18/3/1975: Rạng sáng 10/3, ta nổ súng tiến
công bất ngờ vào các căn cứ quân sự của địch ở trong thị xã Buôn Ma
Thuột. Sau 4 giờ chiến đấu, ta làm chủ sân bay Hòa Bình và khu kho
Mai Hắc Đế. 11 giờ ngày 11/3, ta hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma
Thuột.
Đợt 3: Từ 17 đến 24/3/1975: Ta chặn đánh các lực lượng địch ở
Plây Cu, Công Tum rút chạy trên đường số 7 từ Cheo Reo đến Củng
Sơn. Ngày 14-3
Tổng thống Thiệu họp với Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn
Quang, Phạm Văn Phú ở Nha Trang quyết định rút quân khỏi Công Tum
- Plây Cu theo đường số 7 về giữ vùng đồng bằng ven biển. Ngày
16/3/1975, nhận được thông báo địch đã rút chạy, Bộ tư lệnh chiến dịch
đã ra lệnh nhanh chóng truy kích địch. Chiều ngày 17/3, quân ta đã cắt
đường số 7 hình thành thế bao vây quân địch từ phía sau. Cùng ngày
pháo binh ta bắn vào thị xã Cheo Reo. 18 giờ ngày 18/3, quân ta chiếm
thị xã Cheo Reo. Các ngày 21, 22, 23, quân ta tiếp tục truy kích địch trên
đường số 7. Ngày 24/3, quân ta tiến vào thị xã Củng Sơn, tiêu diệt và
bắt sống toàn bộ địch ở đây. Một mũi quân khác cùng với lực lượng địa
phương giải phóng các tỉnh miền Trung (Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha
Trang). Phối hợp với hướng chính, từ ngày 17/3 đến 22/3, ta giải phóng
Công Tum, Plây Cu, An Khê, Gia Nghĩa, Kiến Đức. Tây Nguyên được
hòan toàn giải phóng.
Kết quả: địch bị tiêu diệt 4.500 tên, bị bắt 16.822 tên, ra hàng và
được phóng thích tại chỗ 7.190 tên. Ta bắn rơi 44 máy bay, phá hủy 110
chiếc, thu và phá hỏng 17.188 súng pháo các loại, 1.096 xe các loại, 767
máy thông tin, thu toàn bộ kho tàng, thiết bị chỉ huy, cơ sở chữa cháy
của ngụy ở Tây Nguyên. Giải phóng 5 tỉnh Tây Nguyên: Công Tum, Gia
Lai, Đắc Lắc, Phú Bồn, Quảng Đức. Hơn 60 vạn nhân dân các dân tộc
giành quyền làm chủ.
Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then
chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời
là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến
tranh Việt Nam (1954 - 1975) chỉ trong 55 ngày cho trận mở màn Chiến
dịch Hồ Chí Minh Đại thắng mùa xuân 1975 ( 26/3 đến 30/4/1975).
Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo - Linh hồn của Chiến
dịch Tây Nguyên
Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay
tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư - Thượng tướng Hoàng Minh
Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây
Nguyên.
Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng
Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử
này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp -
Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng - trang 126: “Trong buổi làm
việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa
học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây
Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất,
là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để
tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi
rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc
phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận".
Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức
Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc
Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt
chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta
đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho
Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.
Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku - Kon
Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam
Bắc (tức Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược
sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ
quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư
đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng
vào thị xã Buôn Ma Thuột.
Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích
trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú,
Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông
ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn
toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh:
“Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường
bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt
và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn
cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.
Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên
tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn
Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ,
những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập
tắt.
Ngày 14/3/1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã
quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về
co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ
Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị
cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã
gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp
với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ
quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này
ngay tại thị xã Tuy Hòa.
Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược
lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn
công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác
đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc
Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà
giáo nhân dân, Giáo sư - cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.
Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng
chiến lược là Tây Nguyên - nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp
chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng
mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân
sự Việt Nam.
Nguyễn Văn Quang Lớp
CỐ THƯỢNG TƯỚNG - GS NGND HOÀNG MINH THẢO
(Kỷ niệm 44 năm giải phóng Buôn Ma Thuột 10/3/1975 -
10/3/2019)
Chiến dịch Tây Nguyên (bắt đầu từ 4-3 đến 3-4-1975), mật danh:
Chiến dịch 275, là chiến dịch mở đầu cho cuộc Tổng tiến công mùa xuân
năm 1975 của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Chiến dịch Tây Nguyên do
cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo (ảnh) là Tư lệnh chiến dịch và
Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp là Chính ủy chiến dịch.
Diễn biến của Chiến dịch Tây Nguyên:
Đợt 1(Tạo thế): Từ 4/3 đến 9/3/1975: Ngày 4/3, ta cắt đường số 19
đọan từ An Khê đến Nam Bình Khê và cắt đường số 21, tập kích bằng
pháo binh và đặc công vào thị xã Công Tum, Plây Cu, tích cực hoạt
động nghi binh để ghìm chặt địch ở Bắc Tây Nguyên. Cùng ngày, ta tiến.
Đợt 2: Từ ngày 10 đến 18/3/1975: Rạng sáng 10/3, ta nổ súng tiến
công bất ngờ vào các căn cứ quân sự của địch ở trong thị xã Buôn Ma
Thuột. Sau 4 giờ chiến đấu, ta làm chủ sân bay Hòa Bình và khu kho
Mai Hắc Đế. 11 giờ ngày 11/3, ta hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma
Thuột.
Đợt 3: Từ 17 đến 24/3/1975: Ta chặn đánh các lực lượng địch ở
Plây Cu, Công Tum rút chạy trên đường số 7 từ Cheo Reo đến Củng
Sơn. Ngày 14-3
Tổng thống Thiệu họp với Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm, Đặng Văn
Quang, Phạm Văn Phú ở Nha Trang quyết định rút quân khỏi Công Tum
- Plây Cu theo đường số 7 về giữ vùng đồng bằng ven biển. Ngày
16/3/1975, nhận được thông báo địch đã rút chạy, Bộ tư lệnh chiến dịch
đã ra lệnh nhanh chóng truy kích địch. Chiều ngày 17/3, quân ta đã cắt
đường số 7 hình thành thế bao vây quân địch từ phía sau. Cùng ngày
pháo binh ta bắn vào thị xã Cheo Reo. 18 giờ ngày 18/3, quân ta chiếm
thị xã Cheo Reo. Các ngày 21, 22, 23, quân ta tiếp tục truy kích địch trên
đường số 7. Ngày 24/3, quân ta tiến vào thị xã Củng Sơn, tiêu diệt và
bắt sống toàn bộ địch ở đây. Một mũi quân khác cùng với lực lượng địa
phương giải phóng các tỉnh miền Trung (Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha
Trang). Phối hợp với hướng chính, từ ngày 17/3 đến 22/3, ta giải phóng
Công Tum, Plây Cu, An Khê, Gia Nghĩa, Kiến Đức. Tây Nguyên được
hòan toàn giải phóng.
Kết quả: địch bị tiêu diệt 4.500 tên, bị bắt 16.822 tên, ra hàng và
được phóng thích tại chỗ 7.190 tên. Ta bắn rơi 44 máy bay, phá hủy 110
chiếc, thu và phá hỏng 17.188 súng pháo các loại, 1.096 xe các loại, 767
máy thông tin, thu toàn bộ kho tàng, thiết bị chỉ huy, cơ sở chữa cháy
của ngụy ở Tây Nguyên. Giải phóng 5 tỉnh Tây Nguyên: Công Tum, Gia
Lai, Đắc Lắc, Phú Bồn, Quảng Đức. Hơn 60 vạn nhân dân các dân tộc
giành quyền làm chủ.
Chiến dịch Tây Nguyên với trận Buôn Ma Thuột là trận đánh then
chốt, mở đầu của chiến dịch tiến công Tây Nguyên năm 1975; đồng thời
là trận đánh mở màn, đòn điểm huyệt chính dẫn đến sự chấm dứt chiến
tranh Việt Nam (1954 - 1975) chỉ trong 55 ngày cho trận mở màn Chiến
dịch Hồ Chí Minh Đại thắng mùa xuân 1975 ( 26/3 đến 30/4/1975).
Thượng tướng, Giáo sư Hoàng Minh Thảo - Linh hồn của Chiến
dịch Tây Nguyên
Khi viết cuốn sách “Tìm hiểu tổ tiên ta đánh giặc” năm 1971 ngay
tại chiến trường Tây Nguyên, Giáo sư - Thượng tướng Hoàng Minh
Thảo đã sớm nhận ra chỗ yếu và hiểm yếu của chiến trường Tây
Nguyên.
Đến năm 1973, khi ra Bắc họp ông đã đề nghị với Đại tướng Tổng
Tư lệnh Võ Nguyên Giáp về việc đánh Buôn Ma Thuột, chi tiết lịch sử
này đã được ghi lại trong cuốn hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp -
Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng - trang 126: “Trong buổi làm
việc, anh Hoàng Minh Thảo với nhãn quan một nhà nghiên cứu khoa
học quân sự đã nêu ý kiến: Khi đã chọn hướng chiến lược là Tây
Nguyên thì trước hết nên đánh Buôn Ma Thuột, vì đây là thị xã lớn nhất,
là nơi hiểm yếu và cũng là nơi sơ hở nhất. Khó khăn phải vượt qua để
tiến công trên hướng này là thiếu đường hành quân và thiếu nước. Tôi
rất tán thành. Sau này ý kiến đó của ông được Bộ Chính trị, Bộ Quốc
phòng, Bộ Tổng tham mưu đồng tình chấp nhận".
Thực hiện kế nghi binh lừa địch, khi Sư đoàn 10 đã tiến về Đức
Lập, phía Nam Buôn Ma Thuột, Sư đoàn 320 đã tiến về Ea H’leo, Bắc
Buôn Ma Thuột thì ta thực hiện đánh chia cắt chiến lược và chia cắt
chiến dịch ở Tây Nguyên chuẩn bị cho việc “trói địch lại mà diệt”. Ta
đánh cắt đứt đường 19, đường 14, rồi tiếp đến là đường 21 làm cho
Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập.
Thế trận đã giăng. Sư đoàn 23 ngụy bị trói chân ở Pleiku - Kon
Tum, các đơn vị tổng dự bị chiến lược của địch bị ghìm ở hai đầu Nam
Bắc (tức Huế - Đà Nẵng và Sài Gòn). Đây là một mưu kế chiến lược
sáng suốt, nhìn xa trông rộng của Bộ Tổng tư lệnh. Thời cơ để ta hạ
quyết tâm tiến công Buôn Ma Thuột đã đến. Với sức mạnh từ ba sư
đoàn của các binh chủng hợp thành táo bạo và bất ngờ tiến công thẳng
vào thị xã Buôn Ma Thuột.
Ngày 10-3-1975, khi những chiếc xe tăng của bộ đội ta đã cán xích
trên đường phố Buôn Ma Thuột lúc đó viên tướng ngụy Phạm Văn Phú,
Tư lệnh Quân đoàn 2 kiêm Tư lệnh vùng 2 chiến thuật mới biết tin. Ông
ta tái mặt, choáng váng thất kinh vì đã quá muộn, ta đã làm chủ hoàn
toàn Buôn Ma Thuột. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh:
“Phải giữ Buôn Ma Thuột bằng bất cứ giá nào”. Do đường 14 là đường
bộ duy nhất nối liền Pleiku với Buôn Ma Thuột đã bị Sư đoàn 320 cắt đứt
và chiếm giữ, nên Sư đoàn 23 ngụy muốn thực hiện phản kích chỉ còn
cách đi bằng máy bay trực thăng, đổ quân vào nơi ta dự kiến.
Thế trận ta đã bày sẵn, Sư đoàn 10 và Trung đoàn 25 của ta liên
tiếp đánh bại bốn trận phản kích của địch ở đường 21 phía Đông Buôn
Ma Thuột, Sư đoàn 23 ngụy, con “át chủ bài” đã cơ bản bị xóa sổ,
những cố gắng và hy vọng chiếm lại Buôn Ma Thuột của địch đã bị dập
tắt.
Ngày 14/3/1975, Nguyễn Văn Thiệu và Bộ Tham mưu ngụy đã
quyết định rút bỏ Tây Nguyên và ra lệnh: Tùy nghi di tản; cho quân rút về
co cụm ở đồng bằng ven biển miền Trung để bảo toàn lực lượng. Bộ
Chính trị và Quân ủy Trung ương đã dự kiến tình huống này và đã chỉ thị
cho các đơn vị đón đánh tiêu diệt chúng. Cuộc rút chạy của quân địch đã
gây ra hoảng loạn “đột biến”. Sư đoàn 320 vẫn kịp thời truy kích, kết hợp
với các lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên đã tiêu diệt và bắt sống toàn bộ
quân địch rút chạy và bắt cả viên chỉ huy cuộc hành quân rút chạy này
ngay tại thị xã Tuy Hòa.
Thắng lợi của chiến dịch Tây Nguyên đã mở ra “thời cơ chiến lược
lớn” thừa thắng chuyển sang tổng tiến công và nổi dậy quân dân ta tấn
công xuống đồng bằng ven biển miền Trung. Đại quân ta ào ào như thác
đổ tiến về Sài Gòn tiêu diệt toàn bộ bộ thống soái của địch, kết thúc cuộc
Tổng tiến công mùa xuân 1975 đại thắng, giải phóng miền Nam, thống
nhất đất nước. Vị tướng chỉ huy trận đánh Buôn Ma Thuột lịch sử là Nhà
giáo nhân dân, Giáo sư - cố Thượng tướng Hoàng Minh Thảo.
Từ nhãn quan một nhà nghiên cứu quân sự, ông đã chọn hướng
chiến lược là Tây Nguyên - nơi hiểm yếu là Buôn Ma Thuột và trực tiếp
chỉ huy, đề ra nguyên lý: “Mưu sinh ra kế, thế đẻ ra thời. Đánh bằng
mưu kế, thắng bằng thời thế”, đó là những tinh hoa của nghệ thuật quân
sự Việt Nam.
Nguyễn Văn Quang Lớp
Nhận xét
Đăng nhận xét